Phân tích thị trường ngoại hối bằng các phân tích cơ bản

Mục đích của phân tích cơ bản là phân tích đồng thời cả xu hướng của thị trường lẫn các yếu tố tác động đến xu hướng đó.

Phân tích cơ bản ra đời trước phân tích kỹ thuật khá lâu và trong suốt một thời gian dài, nó từng được coi là phương pháp duy nhất để dự đoán xu hướng của những biến động trên thị trường. Việc áp dụng phân tích cơ bản khó hơn so với phân tích kỹ thuật. Hàng loạt yếu tố cùng mức độ ảnh hưởng của chúng cần được chú ý xem xét khi phân tích một tình huống thị trường nhất định nhằm lý giải sự biến động của một vài cặp tiền tệ. Số lượng các yếu tố cần xem xét trong phân tích cơ bản khá lớn. Chúng có thể được chia thành bốn nhóm hay chủng loại như sau:

  • Các yếu tố tài chính
  • Các yếu tố kinh tế vĩ mô
  • Các yếu tố chính trị

  • Những thảm họa tự nhiên và biến động sinh thái.

Rất khó để có thể nghiên cứu sâu về tất cả các yếu tố cơ bản trong phạm vi một cuốn sách nhỏ, đó là lý do vì sao chúng tôi sẽ chỉ điểm qua những yếu tố quan trọng nhất mà phân tích cơ bản xem xét đến.

Các yếu tố tài chính (Lãi suất và tỷ lệ lạm phát)

Các yếu tố tài chính là nhóm các yếu tố quan trọng nhất và có tác động lớn đến giao dịch tiền tệ. Tại một số quốc gia, giữa lãi suất và tỷ lệ lạm phát có một mối tương quan gián tiếp. Tại các quốc gia khác nhau tồn tại những mức lãi suất khác nhau và được ấn định bởi những cơ quan quản lý đầy quyền lực như Ngân hàng Trung ương châu Âu tại Liên minh châu Âu, Cục Dự trữ Liên bang (FED) tại Mỹ, Ngân hàng Trung ương Nhật Bản tại Nhật Bản, Ngân hàng Anh tại Liên hiệp Vương quốc Anh, Ngân hàng Quốc gia Thụy Sỹ tại Thụy Sỹ và tương tự tại các quốc gia khác.

Khi một ngân hàng trung ương cắt giảm lãi suất, lãi suất trên các khoản vay cũng sẽ giảm theo, điều này có nghĩa là các khoản vay sẽ trở nên rẻ hơn đối với người tiêu dùng chúng. Do vậy, nhu cầu về các khoản vay và số lượng khoản vay được cấp sẽ tăng lên dẫn đến lượng tiền trong lưu thông và tổng tiêu dùng xã hội cũng đều tăng lên. Cùng lúc đó,lượng cung tiền với giá rẻ sẽ làm giá trị đồng tiền quốc gia thấp đi so với các loại ngoại tệ khác. Chúng ta có thể kết luận là giảm lãi suất tại một quốc gia sẽ tác động một cách tiêu cực lên đồng tiền của quốc gia đó (nghĩa là nó làm giảm giá của đồng tiền quốc gia đó).

Ngược lại, mức lãi suất cao làm cho nhu cầu về tiền giảm xuống và dẫn tới giảm tổng lượng tiền trong lưu thông. Người dân thích gửi tiền vào ngân hàng để hưởng lợi từ mức lãi suất cao. Chúng ta có thể kết luận là việc tăng lãi suất tác động một cách tích cực lên đồng tiền của một quốc gia.

Do vậy, câu hỏi đặt ra ở đây là: Mối quan hệ giữa lãi suất và lạm phát nên được giữ ở mức nào để duy trì nền kinh tế và đồng nội tệ mạnh?

Chúng ta hãy cùng giả định là ở một vài quốc gia, tỷ lệ lạm phát cao hơn so với mức lãi suất. Điều này có nghĩa là việc gửi tiền vào các ngân hàng sẽ thật vô ích khi mà đồng tiền quốc gia mất giá nhanh hơn so với lãi suất mà nó được hưởng. Hay nói cách khác thì việc người tiêu dùng dùng tiền để mua hàng hóa hoặc thanh toán dịch vụ sẽ có lợi hơn cho họ. Điều này tác động rất xấu tới nền kinh tế của một quốc gia. Nếu mức lãi suất và tỷ lệ lạm phát tương đương nhau, tình hình cũng sẽ có diễn biến tương tự nhưng ở tốc độ chậm hơn do tỷ số lãi suất/lạm phát tương đương 1 sẽ dẫn tới tình trạng bão hòa quá mức của đồng tiền trong nền kinh tế và tác động tiêu cực đến đồng tiền quốc gia.

Giả định tốt nhất cho nền kinh tế của một quốc gia là mức lãi suất cao hơn một chút so với tỷ lệ lạm phát.

Mức lãi suất (%) nên cao hơn so với tỷ lệ lạm phát (%)

Đây là kịch bản lý tưởng cho nền kinh tế quốc dân.

Mức lãi suất của chứng khoán chính phủ dài hạn có tác động rất lớn lên tỷ giá hối đoái. Lãi suất này tăng sẽ tác động tích cực lên đồng tiền quốc gia và ngược lại, lãi suất này giảm sẽ khiến đồng tiền quốc gia phải hứng chịu những tác động tiêu cực.

Đây là một ví dụ cho điều này. Nếu lãi suất chứng khoán chính phủ Mỹ tăng trong khi lãi suất chứng khoản chính phủ Nhật Bản giữ nguyên không đổi, các nhà đầu tư sẽ đổ tiền vào chứng khoán chính phủ Mỹ hơn là đầu tư vào các tài sản của Nhật Bản. Thay đổi trong lãi suất chứng khoán này sẽ có thể tác động tốt lên nền kinh tế Mỹ và đồng đô-la do có nhiều người mong muốn đầu tư tiền của họ vào đây. Nhưng như vậy cũng có nghĩa là họ sẽ mua đồng đô-la Mỹ và điều này, đến lượt mình, làm tăng nhu cầu về đồng đô-la và do đó, làm tăng giá của đồng tiền này.

Các yếu tố kinh tế vĩ mô

Phân tích cơ bản xem xét rất nhiều yếu tố kinh tế vĩ mô và tất cả các yếu tố này đều tác động lên tỷ giá hối đoái một cách trực tiếp hoặc gián tiếp.

Có thể thấy là Tổng Sản phẩm Quốc nội GDP là yếu tố kinh tế vĩ mô có tầm ảnh hưởng mạnh mẽ nhất. GDP được tính như sau:

GDP = C + I + G +T

GDP – Tổng Sản phẩm Quốc nội

C – Consumption: Tiêu dùng

I – Investments: Đầu tư

G – Government Expense: Chi tiêu Chính phủ

T – Trade Balance: Cán cân Thương mại.

Cán cân Thương mại được tính bằng sự chênh lệch giữa Xuất khẩu và Nhập khẩu của một quốc gia:

T = Xuất khẩu - Nhập khẩu

GDP tăng sẽ có lợi cho tỷ giá của đồng tiền quốc gia. GDP tăng chứng tỏ sự tăng trưởng của các chỉ số sản xuất, tiêu dùng, dòng vốn quay vòng nhanh hơn, lợi suất của các nhà đầu tư cao hơn và nhu cầu về đồng tiền quốc gia cũng cao hơn. Nó củng cố sức mạnh của đồng tiền quốc gia so với các loại ngoại tệ khác và ngược lại. Khi chỉ số GDP giảm, nó sẽ tác động tiêu cực đến đồng tiền của một quốc gia.

Các yếu tố kinh tế vĩ mô khác là:

  • Tỷ lệ thất nghiệp
  • Khả năng sinh lời
  • Chỉ số Giá Tiêu dùng (CPI)
  • Chỉ số Giá Sản xuất (PPI)
  • Biểu đồ độ dốc Tiêu dùng (Consumption Inclination)
  • Bảng lương Phi nông nghiệp (NFP)
  • Chỉ số Xây dựng Nhà, v.v...

Mọi thay đổi trong các chỉ số và chỉ tiêu phía trên đều tác động đến tỷ giá hối đoái của một đồng tiền ở những mức độ khác nhau. Do đó, nếu có sự thay đổi mang tính tích cực trong một chỉ số hoặc chỉ tiêu nào đó thì nó sẽ tác động lên tỷ giá hối đoái một cách tích cực và ngược lại, nếu thay đổi trong một chỉ số hoặc chỉ tiêu mang tính tiêu cực thì nó sẽ tác động lên tỷ giá hối đoái một cách tiêu cực.

Vài năm trở lại đây, mức độ ảnh hưởng của thị trường chứng khoán lên tỷ giá hối đoái ngày càng tăng. Một trong những chỉ số chứng khoán chính, chỉ số Bình quân Công nghiệp Dow John (DJIA) thể hiện rõ nhất điều này. Rất nhiều công ty nằm trong nhóm DJIA hoạt động trên các thị trường quốc tế, và tỷ giáđồng đô-la Mỹ thấp sẽ là lợi thế cho sự phát triển của các công ty này vì nó thúc đẩy xuất khẩu. Nếu nền kinh tế quốc dân tăng trưởng tốt như nó đã từng như vậy trong nửa cuối thế kỷ trước thì giá trị đồng đô-la Mỹ sẽ tăng lên bởi giá trị của chỉ số DJIA cũng tăng lên. Trong trường hợp này, các công ty sẽ hưởng lợi từ việc tiêu thụ hàng hóa tại thị trường nội địa. Các chỉ số chứng khoán khác như NASDAQ và S&P500 không có tác động mạnh mẽ lên tỷ giá hối đoái như DJIA nhưng ảnh hưởng của chúng vẫn là đáng kể.

Mối quan hệ kiểu này cũng tồn tại ở châu Âu nơi mà các chỉ số chứng khoản của Đức đóng vai trò quan trọng nhất.

Chỉ số FTSE 100 của Anh cũng có tác động nhỏ lên giá trị đồng bảng Anh.

Nhật Bản là quốc gia dựa nhiều vào xuất khẩu, do đó giữa giá trị đồng tiền quốc gia và giá chứng khoán cũng có mối liên hệ nhất định. Nếu đồng yên Nhật rẻ hơn, nó sẽ tạo điều kiện cho xuất khẩu và mức giá chứng khoán tại Nhật Bản cũng như mức giá của chỉ số chính Nikkei 225 sẽ đi lên.

Giữa hai hoặc nhiều cặp tiền tệ bao giờ cũng có mối tương quan về tỷ giá hối đoái. Điều này có thể dễ dàng nhận thấy khi quan sát một số đồng tiền của các quốc gia châu Âu và đồng đô-la Mỹ. Sự gần gũi về địa lý và kinh tế của Anh với các quốc gia châu Âu khác là lý do của việc đồng Euro giảm giá so với đồng đô-la Mỹ, điều này cũng sẽ làm cho đồng bảng Anh xuống giá so với đô-la Mỹ. Giữa một số đồng tiền quốc gia tại châu Á cũng có mối quan hệ tương tự.

Các yếu tố chính trị và thông tin

Ổn định chính trị là điều kiện quan trọng nhưng không phải duy nhất cho sự tăng giá của một đồng tiền. Theo quy luật, thị trường thường có phản ứng e ngại trước khi các cuộc bầu cử tổng thống và quốc hội diễn ra. Trong trường hợp này, phần lớn các thành phần tham gia thị trường đều muốn đóng trạng thái của mình, do xu hướng của những diễn biến tiếp theo là khó đoán và họ muốn đợi cho đến khi tình hình trở nên ổn định và rõ ràng hơn. Nói chung, sự bất ổn chính trị có tác động rất tiêu cực đến đồng tiền quốc gia và thường dẫn tới sự sụt giảm giá trị của đồng tiền này.

Phản ứng của thị trường trước các thông tin chính trị, tài chính và kinh tế khác nhau được công bố là một chủ đề nghiên cứu rất rộng lớn, nhưng chưa ai có thể mô tả chính xác ảnh hưởng mà chúng gây ra đối với xu hướng của thị trường. Có nhiều lý do để giải thích cho điều này; tuy nhiên lý do chính là thông tin, cho dù quan trọng đến mức độ nào, cũng không thể thay đổi xu hướng dài hạn của thị trường. Trên thực tế, đã thành thông lệ, một số định chế tài chính lớn thường tung ra một số thông tin một cách có chủ đích (đôi khi chúng chỉ là các tin đồn) để gây tác động lên tỷ giá hối đoái của một số đồng tiền. Thị trường phản ứng lại các thông tin từ rất lâu trước khi chúng được công bố vì không chỉ phản ứng, thị trường còn kỳ vọng. Thị trường kỳ vọng bởi các vị trí quan trọng như chủ tịch hội đồng quản trị hoặc các thành viên hội đồng quản trị các công ty đều được biết rõ và sức khỏe của hệ thống tài chính trong một quốc gia cũng rất rõ ràng. Như người ta thường nói "Mua tin đồn, bán sự thật", nghĩa là tác động do một thông tin gây ra thường biến mất trước khi thông tin đó được chính thức công bố.

Trên thực tế, thông tin thường gây ra một số biến động trên thị trường (Hình 20)

phan-tich-co-ban-forex-01

Khi các tin đồn xuất hiện hay khi các thông tin được chính thức công bố, các tay chơi lớn sẽ lập tức tham gia thị trường để kiếm lời (hoặc tránh thua lỗ trong tương lai). Nếu xu hướng hiện hữu là đi xuống và thông tin mang tính tích cực, những thành phần này sẽ bắt đầu mua vào. Nhưng tới một thời điểm nào đó, hiệu ứng mà tin đồn hoặc thông tin mang lại sẽ yếu đi và không thể giúp thị trường đảo chiều đi lên tiếp được nữa, và làm cho mức giá giảm trở lại. Điều này có thể được giải thích là thị trường Ngoại hối được định hướng bởi những yếu tố thậm chí còn lớn hơn rất nhiều. Khi xu hướng là đi lên và thông tin mang tính tiêu cực, mức giá sẽ phản ứng rất giống với điều đã được mô tả phía trên. Nó giảm xuống rồi sau đó quay trở lại mức ban đầu.

Một ví dụ khác về ảnh hưởng của thông tin lên xu hướng của thị trường được thể hiện trong Hình 21.

phan-tich-co-ban-forex-02

Khi thị trường đang giằng co và thông tin mới được công bố, sẽ luôn có một lượng người nhất định mong muốn kiếm lời từ nó. Điều này lý giải vì sao mức giá chỉ nhảy vọt trong quãng thời gian ngắn trước khi gặp kháng cự từ thị trường và quay về ngưỡng giằng co sau khi đã biến động ZigZag theo hướng đi xuống.

phan-tich-co-ban-forex-03

phan-tich-co-ban-forex-04

Giả định thứ ba là khi thị trường đang giằng co và thông tin mới được công bố khiến cho giá biến động mạnh theo chiều tăng lên hoặc giảm xuống. Sau đó thị trường lại quay về tình thế giằng co ban đầu mà không đi theo đường ZigZag nữa. Điều này có nghĩa là thị trường bắt đầu giằng co trong một khoảng biên độ mới (Hình 22 và 23).

Một khả năng khác về tác động của thông tin đối với thị trường là khi thông tin tích cực xuất hiện trong khi thị trường đang đi lên và thông tin tiêu cực xuất hiện trong khi thị trường đang đi xuống. Thị trường sẽ có thêm động lực và mức giá sẽ biến đổi nhanh hơn theo xu hướng hiện tại của nó.

Những thảm họa tự nhiên và sinh thái

Tác động mà những thảm họa tự nhiên và sinh thái gây ra đối với tỷ giá hối đoái của một đồng tiền quốc gia thường mang tính tiêu cực một cách tự nhiên. Thảm họa tự nhiên càng nặng nề thì tác động tiêu cực của nó lên nền kinh tế một quốc gia càng lớn.

Trận động đất tại Nhật Bản cuối tháng 7/2007 là một ví dụ điển hình về thảm họa tự nhiên. Nó đã gây tác động tiêu cực lên nền kinh tế Nhật Bản và ngành sản xuất ô tô của nước này, trong khi tại thời điểm đó Nhật Bản đang xếp thứ hai trong số các nhà sản xuất ô tô lớn nhất thế giới. Sau trận động đất, những công ty hàng đầu như Toyota, Nissan, Suzuki, Mitsubishi và Honda đều phải tuyên bố tạm dừng hoặc thậm chí ngừng hẳn việc sản xuất ô tô do những thiệt hại nặng nề về máy móc và thiết bị sản xuất. Công ty Điện lực Tokyo, nhà sản xuất điện lớn nhất Nhật Bản cũng tuyên bố tạm dừng sản xuất trong quãng thời gian chưa xác định. Chỉ số chứng khoản chính của Nhật Bản - Nikkei 225 đương nhiên đã phản ứng rất tiêu cực. Đồng yên Nhật mất đi tính hấp dẫn trong mắt các nhà đầu tư và sau đó chỉ được giao dịch trong biên độ hẹp.

Lý thuyết Nến Nhật Phần 2
Phân tích thị trường ngoại hối bằng đồ thị